Liên hệ  |  Giới thiệu
ABOUT US
CATEGORIES
SERVICE
PROJECTS
TEARM & CONDITION
CONTACT US
TIN TỨC & SỰ KIỆN
Trung tâm Y tế huyện Xuyên Mộc triển khai kỹ thuật điều trị mới
Đổi mới hoạt động các phong trào thanh thiếu niên nhi đồng
Khách sạn Palace – chứng nhân lịch sử
Việt Nam có khoảng 12 triệu người bị tăng huyết áp
Giữ lửa cho làng nghề truyền thống bánh tráng An Ngãi
QL 51 - điểm nóng về TNGT
BRVT Tăng cường công tác quản lý vật liệu nổ công nghiệp
Nhiều học sinh đã sẵn sàng cho kỳ thi vào trường THPT chuyên Lê Quý Đôn năm học 2017-2018
Ấm lòng tủ quần áo từ thiện
Ý nghĩa ngày Quốc tế lao động
ĐH đảng bộ tỉnh BR-VT lần VI 
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh BR-VT khóa V
22-10-2015 16:24

TỈNH ỦY BÀ RỊA-VŨNG TÀU                                                           ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

          *                                                                                          Bà Rịa, ngày 06 tháng 10 năm 2015

               Số 333-BC/TU  

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG BỘ;

PHÁT HUY DÂN CHỦ VÀ SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN;

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VỮNG MẠNH;

CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG NHÂN DÂN; PHÁT TRIỂN BÀ RỊA – VŨNG TÀU THÀNH TỈNH MẠNH VỀ CÔNG NGHIỆP,

CẢNG BIỂN, DỊCH VỤ HẬU CẦN CẢNG VÀ DU LỊCH

(Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa V

tại Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VI)

 

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V tổ chức vào cuối năm 2010, trong điều kiện đất nước có nhiều thuận lợi, các chỉ tiêu được xây dựng với mức tăng trưởng cao. Nhưng bước vào đầu nhiệm kỳ, kinh tế của tỉnh liên tục đối diện với nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng từ khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới và suy giảm kinh tế trong nước; lạm phát, lãi suất tăng cao, tiêu thụ sản phẩm khó khăn, nhiều doanh nghiệp giải thể, phá sản, ngưng hoạt động; tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, các vấn đề tội phạm, tai nạn giao thông tăng cao đã tác động đến việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong tỉnh.

Trong bối cảnh đó, với tinh thần đoàn kết, đổi mới, chủ động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu, khắc phục khó khăn, đạt được nhiều thành quả quan trọng, nhiều chỉ tiêu đạt, vượt kế hoạch do Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đề ra, từng bước khẳng định vai trò, vị trí của tỉnh trong nền kinh tế cả nước, góp phần thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XI của Đảng.

 

I. KIỂM ĐIỂM 5 NĂM 2011-2015

1. Kinh tế duy trì được mức tăng trưởng hợp lý; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ; các ngành công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp có bước phát triển; huy động vốn đầu tư toàn xã hội và thu ngân sách đạt khá

1.1. Trong 10 chỉ tiêu chủ yếu có 5 chỉ tiêu vượt so với Nghị quyết gồm: dịch vụ du lịch, giá trị xuất khẩu, tổng thu ngân sách nội địa, giá trị sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ xã đạt tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.

1.2. Cơ cấu kinh tế trừ dầu khí: Công nghiệp - xây dựng chiếm 54,37% (giảm 3,1%); dịch vụ chiếm 33,96% (tăng 1,06%) và nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 11,66% (tăng 2,03%). GRDP bình quân đầu người trừ dầu khí năm 2015 đạt 5.233 USD. 

1.3. Về phát triển công nghiệp

- Cơ cấu ngành công nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng công nghiệp khai thác, tăng dần tỷ trọng công nghiệp chế biến; sản phẩm công nghiệp ngày càng đa dạng, có thêm nhiều sản phẩm mới; một số sản phẩm công nghiệp đã trở thành nguyên liệu đầu vào cho các sản phẩm công nghiệp khác; có 12 sản phẩm sử dụng công nghệ cao, tiêu tốn ít năng lượng, có sức cạnh tranh, sức lan tỏa, thu hút công nghiệp hỗ trợ và các dự án khác.

- Đầu tư phát triển trong các khu công nghiệp chiếm tỷ lệ cao, quyết định tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Toàn tỉnh có 323 dự án công nghiệp đang hoạt động; trong đó, các khu công nghiệp có 204 dự án, qua 5 năm đóng góp cho ngân sách 31,31 ngàn tỷ đồng, thu hút thêm 15.700 lao động, nâng tổng số lao động trong các khu công nghiệp lên 48.000 người.

1.4. Về phát triển dịch vụ - thương mại

- Hệ thống cảng biển được chú trọng đầu tư, đã có thêm 4 dự án lớn đưa vào hoạt động, nâng tổng số dự án cảng biển đang hoạt động lên 28 với tổng công suất khoảng 98 triệu tấn/năm; lượng hàng thông qua cảng bình quân hàng năm đạt 36 triệu tấn, đặc biệt đã đón được tàu có trọng tải đến 160.000 tấn, đi thẳng các nước Châu Âu, Châu Mỹ. Hạ tầng giao thông kết nối hệ thống cảng với các đường quốc lộ từng bước được hoàn thiện; đã hoàn thành tuyến đường 965, nâng cấp Quốc lộ 51; đang đầu tư đường liên cảng Cái Mép - Thị Vải, chuẩn bị xây dựng đường 991B, Phước Hòa – Cái Mép và quy hoạch, chọn nhà đầu tư Trung tâm Dịch vụ hậu cần cảng Cái Mép Hạ.

- Dịch vụ du lịch tăng trưởng khá, chất lượng phục vụ được nâng lên; đã phát triển 12 sản phẩm và 10 tour, tuyến mới đặc biệt là tour dành cho khách tàu biển; cơ sở vật chất ngành du lịch được tăng cường, đã có thêm 50 khách sạn và khu du lịch đưa vào hoạt động. Hàng năm, các cơ sở dịch vụ du lịch đón và phục vụ khoảng 12 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 450 ngàn lượt khách quốc tế.

- Hệ thống phân phối thương mại có bước phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là việc hình thành, phát triển hệ thống các siêu thị, trung tâm thương mại và xây dựng, nâng cấp các chợ truyền thống (có 3 trung tâm thương mại, 8 siêu thị và 99 chợ).

- Hoạt động xuất khẩu phát triển khá, đã có thêm một số mặt hàng xuất khẩu mới như: thép, kính chất lượng cao, nhựa, dầu thực vật,…; quy mô các mặt hàng xuất khẩu trên 100 triệu USD được mở rộng (thép, cơ khí chế tạo, hải sản chế biến, vải giả da, da thuộc, dầu thực vật, giầy da, hạt điều).

- Các ngành dịch vụ khác như: tài chính, ngân hàng, thông tin truyền thông, vận tải hàng hóa, hành khách, tư vấn pháp lý… phát triển mạnh về số lượng và chất lượng, bảo đảm phục vụ kịp thời nhu cầu cuộc sống và sản xuất kinh doanh.

1.5. Về phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

- Sản xuất nông nghiệp có nhiều tiến bộ; tỷ trọng chăn nuôi tăng từ 37,7% lên 44%, hình thành các vùng chăn nuôi tập trung ở một số huyện; ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực trồng trọt từng bước được nâng lên, cơ cấu cây trồng được chuyển đổi sang những loại có giá trị cao, góp phần tăng năng suất và nâng cao giá trị sản phẩm; giá trị sản xuất trên 1 ha đất đạt 91,2 triệu đồng, tăng 38 triệu đồng so với năm 2010.

- Quan tâm đầu tư, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất, hạ tầng để phát triển nông nghiệp, trong đó: kiên cố hóa 184 km kênh mương; hệ thống các công trình thủy lợi cơ bản bảo đảm nước tưới cho 18.465 ha đất sản xuất nông nghiệp, tăng 7.115 ha so với năm 2010; đã đưa vào sử dụng công trình Hồ chứa nước Sông Ray với dung tích 215 triệu m3, cung cấp 535 ngàn m3 nước/ngày đêm bảo đảm cho nhu cầu sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ và sản xuất nông nghiệp.

- Cơ cấu khai thác, nuôi trồng thủy sản có giá trị cao được nâng lên; khai thác thủy sản chuyển mạnh sang đánh bắt xa bờ với tỷ lệ tàu chiếm 45% tổng số tàu toàn tỉnh; giá trị sản phẩm trên 1 ha mặt nước đạt 150 triệu đồng, tăng 57,4 triệu đồng so với năm 2010; giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 1,75 tỷ USD, chiếm 15,6% tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh. Dịch vụ hậu cần thủy sản được quan tâm đầu tư; có 47 tàu làm dịch vụ hậu cần nghề cá, tăng 55% so với giai đoạn trước; hạ tầng kỹ thuật 2 khu chế biến hải sản tập trung tại huyện Đất Đỏ, Xuyên Mộc đang được thi công, tại thành phố Vũng Tàu đang xem xét, cân nhắc kỹ thêm về địa điểm đầu tư.

- Công tác quản lý, bảo vệ, phòng chống cháy rừng được chú trọng thực hiện; đã trồng mới được 2.763 ha rừng tập trung, trong đó có 254 ha rừng phòng hộ, đặc dụng, 2.509 ha rừng sản xuất; trồng phục hồi, nâng cao chất lượng 600 ha rừng phòng hộ, đặc dụng.

- Huy động được gần 5.550 tỷ đồng để thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới, trong đó vốn ngân sách 1.880 tỷ đồng, chiếm 34,3%; thu nhập bình quân đầu người ở các xã nông thôn mới đạt 34 triệu đồng/năm; có 18/43 xã đạt tiêu chí nông thôn mới (đạt 42%, vượt 22% so với chỉ tiêu Nghị quyết).

1.6. Về đầu tư phát triển

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 173.909 tỷ đồng, gấp 1,8 lần giai đoạn trước, trong đó vốn ngân sách chiếm 16%, vốn đầu tư của doanh nghiệp chiếm 84%; thu hút thêm 219 dự án đầu tư, gồm 76 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 2,4 tỷ USD, 143 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 78.119 tỷ đồng.

- Năng lực mới về kinh tế, hạ tầng kỹ thuật, xã hội từ các nguồn vốn đầu tư bằng ngân sách và doanh nghiệp tăng thêm 368 công trình, dự án, trong đó có một số công trình, dự án lớn.

1.7. Về công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường

- Công tác lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý quy hoạch được chú trọng; đến nay có 61 quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngành, lĩnh vực, 417 đồ án quy hoạch xây dựng được lập và phê duyệt; đã phân công, phân cấp quản lý quy hoạch đến cơ sở; triển khai Đề án tái định cư, lập Chương trình phát triển nhà ở, Chương trình phát triển đô thị của tỉnh.

- Hoàn thành Quy hoạch sử dụng đất toàn tỉnh đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015 ở cả 3 cấp; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đạt 95,7% tổng diện tích cần cấp; đã thu hồi và giải phóng mặt bằng trên 6.000 ha mặt đất, mặt nước để thực hiện trên 330 dự án đầu tư.

- Có 5/7 chỉ tiêu môi trường đạt so với Nghị quyết: tỷ lệ che phủ cây xanh; tỷ lệ che phủ rừng; tỷ lệ rác thải y tế được thu gom, xử lý; tỷ lệ cơ sở sản xuất mới áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường; tỷ lệ dự án đầu tư mới trong các khu công nghiệp sử dụng công nghệ sạch, bảo vệ môi trường.

- Có 7/9 khu công nghiệp đang hoạt động đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, trong đó có 4 khu công nghiệp và cụm công nghiệp Ngãi Giao đã lắp đặt hệ thống quan trắc tự động. Phần lớn rác thải sinh hoạt đã được xử lý chôn lấp hợp vệ sinh; đến cuối năm 2015 sẽ hoàn thành dự án thu gom và xử lý nước thải thành phố Vũng Tàu, chuẩn bị đầu tư một số dự án thu gom, xử lý nước thải ở các đô thị.

1.8. Về thu, chi ngân sách nhà nước

- Tổng thu ngân sách nhà nước trừ dầu khí trên địa bàn khoảng 258.466 tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với giai đoạn trước, vượt 19% dự toán. Trong đó, thu thuế xuất nhập khẩu 111.026 tỷ đồng, đạt 107% dự toán; thu nội địa 146.328 tỷ đồng, gấp 2 lần so với giai đoạn trước, vượt 31% dự toán.

- Tổng chi ngân sách nhà nước khoảng 57.746 tỷ đồng, cơ cấu nguồn chi hợp lý, chi đầu tư phát triển chiếm 49,7%, chi thường xuyên chiếm 48,3%, các khoản chi khác chiếm 2%, đáp ứng được yêu cầu chi cần thiết của tỉnh.

Kinh tế của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Có 5/10 chỉ tiêu kinh tế, 2/7 chỉ tiêu môi trường đạt thấp so với Nghị quyết: tăng trưởng GRDP trừ dầu khí và tính cả dầu khí; GRDP trừ dầu khí bình quân đầu người; giá trị sản xuất công nghiệp trừ dầu khí và tính cả dầu khí; tổng doanh thu thương mại - dịch vụ; tổng vốn đầu tư phát triển; tỷ lệ thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động hoàn thành hệ thống xử lý nước thải tập trung.

- Chưa xác định được sản phẩm công nghiệp chủ lực để thu hút, phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ còn hạn chế; thu hút quá nhiều dự án thép sử dụng nhiều điện, gây ô nhiễm môi trường; đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp còn chậm.

- Phát triển kinh tế cảng chưa đồng bộ, tăng trưởng thấp so với quy mô công suất đã đầu tư; dịch vụ hậu cần cảng và hạ tầng giao thông kết nối chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của hệ thống cảng. Thiếu sản phẩm du lịch để khách lưu trú dài ngày, các khu du lịch chất lượng cao còn ít, chưa có cảng chuyên dùng cho tàu khách du lịch, chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn thấp, công tác quản lý và môi trường du lịch còn nhiều hạn chế.

- Việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp còn ít; thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa 5 nhà (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà băng - ngân hàng) để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; triển khai xây dựng các khu chế biến hải sản tập trung còn chậm.

- Quản lý quy hoạch, xây dựng, đất đai, bảo vệ và tái tạo rừng tại một số địa phương chưa tốt, còn để xảy ra vi phạm; việc công khai quy hoạch chưa đạt yêu cầu, người dân vẫn còn khó khăn trong tiếp cận quy hoạch; chất lượng một số quy hoạch còn thấp, có tình trạng không thống nhất giữa quy hoạch xây dựng với các quy hoạch khác; công tác thanh tra, kiểm tra xây dựng còn hạn chế; tình trạng xây dựng trái phép, không phép diễn biến phức tạp, công tác lãnh đạo, quản lý còn yếu kém nhưng chưa có biện pháp kiên quyết, đủ mạnh để xử lý; công tác thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn bất cập, gây khó khăn cho việc triển khai các dự án đầu tư.

- Công tác quản lý về cấp phép đầu tư chưa chặt chẽ; hoạt động thu hút đầu tư chưa tích cực, chủ động, hiệu quả không cao, chưa gắn việc thu hút đầu tư với các giải pháp bảo vệ môi trường, ảnh hưởng đến phát triển bền vững của tỉnh. Vốn thực hiện của các dự án do doanh nghiệp đầu tư thấp chỉ đạt 40,7%, số dự án chậm triển khai còn nhiều chiếm 26% tổng số dự án đăng ký; việc xử lý các dự án chậm triển khai chưa mạnh mẽ; bố trí đầu tư bằng vốn ngân sách còn dàn trải, chưa tập trung, lãng phí ở một số loại công trình; thu tiền sử dụng đất của các dự án vào ngân sách còn hạn chế.

- Công tác quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản thiếu chặt chẽ, quyết liệt, dẫn đến khai thác không phép, trái phép diễn biến phức tạp, gây thất thoát tài nguyên; còn nhiều mỏ chưa thực hiện việc cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác; ô nhiễm môi trường tại một số khu công nghiệp, các nhà máy thép, các cơ sở chế biến hải sản, các khu dân cư chậm được khắc phục.

2. Các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao được quan tâm đầu tư, tiếp tục phát triển; các vấn đề xã hội được tích cực chăm lo; đời sống người dân tiếp tục được cải thiện

2.1. Có 10/13 chỉ tiêu văn hóa – xã hội đạt và vượt mức Nghị quyết: mức giảm sinh, số bác sĩ/vạn dân, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng, số học sinh phổ thông, tỷ lệ huy động các cháu 5 tuổi và trong độ tuổi đi mẫu giáo, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh và quốc gia, giải quyết việc làm cho người lao động, mức hưởng thụ văn hóa, tỷ lệ người dân tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên.

2.2. Về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ

- Công tác giáo dục và đào tạo được quan tâm đầu tư; đã hoàn thành 42 trường học với vốn đầu tư 4.369 tỷ đồng, nâng tổng số trường học các cấp từ 382 lên 424 trường, trong đó có 187 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 44,4%; đã có 12 dự án hoàn thành đưa vào sử dụng theo hình thức xã hội hóa. Đội ngũ giáo viên cơ bản bảo đảm số lượng, cơ cấu và đạt chuẩn về trình độ. Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên; tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục trung học cơ sở; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT, thi đậu các trường đại học, cao đẳng hàng năm đều tăng; với hệ thống 5 trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và 34 cơ sở đào tạo nghề đã từng bước đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh sau tốt nghiệp.

- Tổng vốn đầu tư từ ngân sách cho hoạt động khoa học công nghệ là 237 tỷ đồng; hoàn thành 43 đề tài, dự án khoa học cấp tỉnh, nhiều đề tài, dự án sau nghiệm thu đã được áp dụng, phát huy hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nhiều doanh nghiệp đã bỏ vốn đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; các hoạt động sở hữu trí tuệ được triển khai tích cực, nhiều nhãn hiệu, thương hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích đã được cấp bằng bảo bộ.

2.3. Về y tế

Chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân từng bước được nâng lên bằng nhiều giải pháp như: điều động luân phiên cán bộ y tế, nhận chuyển giao kỹ thuật từ tuyến trên xuống tuyến dưới; đưa bác sĩ, y sĩ từ các bệnh viện tuyến tỉnh xuống khám chữa bệnh tại các xã vùng nông thôn; đầu tư từ ngân sách trên 1.950 tỷ đồng để xây dựng, mua sắm trang thiết bị, nâng cấp các cơ sở y tế; đưa vào sử dụng Bệnh viện Đa khoa Bà Rịa, Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Trung tâm Y tế các huyện Đất Đỏ, Xuyên Mộc, Long Điền, qua đó đã tăng thêm 550 giường bệnh; có 697 cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân hoạt động khá hiệu quả bằng hình thức xã hội hóa; hàng năm, các cơ sở y tế đã khám, chữa bệnh cho trên 2 triệu lượt người. Có 6,5 bác sĩ/vạn dân, 49/82 xã, phường, thị trấn đạt bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã; công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng, không để xảy ra dịch bệnh trên diện rộng.

2.4. Về các hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hoá, thể thao phục vụ nhân dân được nâng lên cả về số lượng và chất lượng: cơ sở vật chất tiếp tục được hoàn thiện; đã cơ bản hoàn chỉnh các thiết chế từ tuyến tỉnh đến huyện, xã; hoàn thành đưa vào hoạt động Trung tâm Văn hóa và Bảo tàng tỉnh, Bảo tàng và Đền thờ Côn Đảo, Trung tâm Văn hóa - Thể thao Tân Thành, Đất Đỏ và Côn Đảo; mạng lưới câu lạc bộ thể dục, thể thao ở cơ sở phát triển mạnh, chủ yếu bằng hình thức xã hội hóa với hơn 500 câu lạc bộ; phong trào rèn luyện thể dục thường xuyên ngày càng phát triển. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật diễn ra sôi nổi, phong phú, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Hoạt động tôn giáo, đời sống tín ngưỡng của nhân dân được tôn trọng, phù hợp với chính sách của Nhà nước.

2.5. Về thực hiện các chính sách xã hội

Công tác đào tạo nghề được quan tâm, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 70%; giải quyết việc làm cho 195.450 lượt lao động, vượt 13% so với Nghị quyết; triển khai nhiều hoạt động về giảm nghèo đạt kết quả tích cực, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn tỉnh còn 1,32%, theo chuẩn quốc gia còn 0,47%; phụng dưỡng 100% Mẹ Việt Nam Anh hùng, gia đình chính sách được quan tâm, chăm lo, hỗ trợ; công tác dân tộc và các chương trình, đề án phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số được đẩy mạnh, đạt kết quả tích cực; chế độ, chính sách về bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp cho người lao động được quan tâm thực hiện.

Các lĩnh vực văn hóa - xã hội vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Có 3/13 chỉ tiêu chưa đạt so với Nghị quyết: tỷ lệ tăng dân số tự nhiên, tỷ lệ huy động số cháu đi nhà trẻ, số giường bệnh/vạn dân.

- Việc đầu tư xây dựng trường học ở một số địa bàn chưa phù hợp với nhu cầu, dẫn đến tình trạng nơi thừa, nơi thiếu phòng học; công tác đào tạo nguồn nhân lực chưa gắn với nhu cầu sử dụng, chất lượng đào tạo chưa cao.

- Việc bố trí vốn đầu tư phát triển cho khoa học, công nghệ còn hạn chế; các đề tài, dự án nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ về các lĩnh vực tiềm năng, thế mạnh của tỉnh như phát triển công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch còn rất ít.

- Nhiều trung tâm văn hóa học tập cộng đồng hoạt động chưa hiệu quả nhưng chậm được chỉ đạo khắc phục; còn thiếu không gian, cơ sở vật chất cho các hoạt động vui chơi, giải trí, thể dục, thể thao phục vụ nhân dân.

- Chất lượng khám, chữa bệnh chưa đáp ứng được yêu cầu; nguồn nhân lực y tế vẫn còn thiếu, nhất là bác sĩ, kỹ thuật viên có trình độ chuyên môn cao.

- Việc triển khai chủ trương xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục, khoa học, công nghệ, y tế, văn hoá, thể thao còn hạn chế, thiếu giải pháp thực hiện.

3. Các vùng kinh tế của tỉnh phát triển đồng bộ, hệ thống các đô thị được đầu tư, nâng cấp

- Hệ thống hạ tầng các đô thị có sự cải thiện rõ rệt về chất lượng ở tất cả các mặt: nhà ở, giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng, cây xanh… Thành phố Vũng Tàu được công nhận là đô thị loại I, thành phố Bà Rịa được công nhận là đô thị loại II; đô thị mới Phú Mỹ đạt tiêu chuẩn đô thị loại IV, đang hoàn tất hồ sơ để thành lập thị xã. Đã hoàn thành hầu hết các quy hoạch; ban hành một số cơ chế, chính sách ưu đãi và đầu tư một số công trình hạ tầng cho huyện Côn Đảo.

- Hành lang kinh tế công nghiệp - cảng biển ngày càng phát huy thế mạnh, với hệ thống đô thị Vũng Tàu, Bà Rịa và Phú Mỹ; trong khu vực có 28 dự án cảng biển với công suất khoảng 98 triệu tấn/năm và 9 khu công nghiệp đang hoạt động.

- Hành lang kinh tế dọc tuyến đường ven biển Vũng Tàu, Long Hải, Phước Hải, Bình Châu tiếp tục được đầu tư phát triển, từng bước hình thành dải các dự án du lịch và hậu cần thủy sản.

- Vùng kinh tế nông nghiệp bao gồm các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Đất Đỏ đã hình thành và phát triển các vùng trồng cây chuyên canh, các trang trại chăn nuôi quy mô lớn và vừa; chương trình xây dựng nông thôn mới đã góp phần tích cực vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng và nâng cao thu nhập của nhân dân.

Việc phát triển các vùng, các huyện và thành phố vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Tiến độ triển khai Đề án Phát triển Côn Đảo chậm, chưa có cơ chế hiệu quả để huy động vốn đầu tư cho Côn Đảo.

- Kết quả thực hiện nghị quyết về phát triển đô thị Vũng Tàu còn hạn chế, không sử dụng hết vốn đầu tư được phân bổ, do khó khăn về bồi thường giải phóng mặt bằng và tái định cư; việc phát triển đô thị mới Phú Mỹ chưa gắn kết được mục tiêu, nhiệm vụ với kế hoạch phân bổ, cân đối nguồn lực để thực hiện.

4. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, công tác tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực

- Chất lượng tổng hợp và trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh được nâng lên, không để bị động, bất ngờ trong các tình huống; bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới, biển, đảo, cửa khẩu, cảng biển, tài nguyên và các cơ sở kinh tế trọng yếu của tỉnh; xây dựng cơ quan quân sự cấp xã vững mạnh toàn diện, tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ hàng năm đạt chỉ tiêu về số lượng, nâng cao dần chất lượng.

- An ninh chính trị, kinh tế, văn hóa - tư tưởng, thông tin - truyền thông được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; kịp thời nắm tình hình, phát hiện, phối hợp ngăn chặn, xử lý những vụ vi phạm pháp luật, tranh chấp, khiếu kiện đông người, không để phát sinh thành điểm nóng; tập trung chỉ đạo, họp bàn giải quyết các vụ việc, đơn thư khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là đã giải quyết dứt điểm 20/25 vụ khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài; triển khai đồng bộ các biện pháp thực hiện chương trình 4 giảm, giảm được 7,5% số vụ phạm pháp hình sự, 2,8% số người chết vì tai nạn giao thông, 20% số vụ mại dâm.

- Công tác cải cách tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực theo tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp có hiệu quả hơn, chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa được nâng lên.

- Công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, dân sự, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ thẩm phán, điều tra viên, kiểm sát viên, chấp hành viên được tăng cường, góp phần phòng, chống oan sai bỏ lọt tội phạm, bảo đảm các chỉ tiêu, nhiệm vụ được giao.

Công tác quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, công tác tư pháp vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Việc cụ thể hóa, triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực quốc phòng, an ninh ở một số cấp ủy, chính quyền hiệu quả chưa cao; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh trên từng dự án còn lúng túng.

- Công tác phối hợp giữa công an, quân sự, biên phòng với các lực lượng chức năng khác ở một số ít địa bàn trong thực hiện nhiệm vụ có lúc chưa chặt chẽ, kịp thời.

- Chưa ngăn chặn có hiệu quả việc lợi dụng phương tiện Internet để tập hợp, đưa tin, viết bài có nội dung xấu, phản động, xuyên tạc, bịa đặt.

- Số vụ tai nạn giao thông, vi phạm pháp luật về ma túy tăng so với cùng kỳ; trật tự an toàn xã hội trên biển còn nhiều phức tạp; tình hình ngư dân khai thác hải sản trên các vùng biển chồng lấn, xâm phạm lãnh hải một số nước, bị bắt giữ vẫn diễn ra. 

- Trong một số vụ án, quan điểm áp dụng pháp luật giữa các cơ quan tiến hành tố tụng có lúc còn thiếu thống nhất dẫn đến tình trạng án bị trả hồ sơ, thời gian giải quyết kéo dài; số vụ án quá thời hạn xét xử còn cao; sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đôi khi chưa chặt chẽ; chất lượng và hiệu quả tranh tụng tại một số phiên tòa còn hạn chế, nhất là các vụ án dân sự; trình độ, năng lực của một số cán bộ tiến hành tố tụng chưa đáp ứng được yêu cầu.

5. Hoạt động đối ngoại được mở rộng, các tiềm năng, thế mạnh của tỉnh được tích cực giới thiệu, quảng bá

Hoạt động đối ngoại và mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các địa phương khác ở một số quốc gia, vùng lãnh thổ được đẩy mạnh; công tác giao lưu văn hóa, đối ngoại nhân dân được tăng cường; đã tiếp hơn 200 đoàn khách quốc tế đến thăm và làm việc tại tỉnh; ký thỏa thuận hợp tác với 17 địa phương và tổ chức nước ngoài. Thông qua hoạt động đối ngoại các tiềm năng, thế mạnh, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã được giới thiệu, quảng bá, góp phần thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và hỗ trợ các doanh nghiệp của tỉnh mở rộng thị trường.

Hoạt động đối ngoại còn một số hạn chế, khuyết điểm: chưa thật sự chủ động, thiếu sự điều hành thống nhất, chưa có chương trình, kế hoạch tổng thể về hoạt động đối ngoại dài hạn; việc ký kết các thỏa thuận hợp tác còn bị động; nội dung hợp tác kinh tế chưa nhiều, chưa mang lại hiệu quả, lợi ích rõ rệt.

6. Hệ thống chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động

- Vai trò, vị thế của HĐND ngày càng được nâng cao; các kỳ họp được đổi mới, phát huy quyền và trách nhiệm của đại biểu; tiếp xúc cử tri được mở rộng đến nhiều đối tượng; các đại biểu HĐND ghi nhận và chuyển kịp thời kiến nghị của cử tri tới các cơ quan chức năng để xem xét giải quyết; hoạt động giám sát và kiểm tra việc triển khai, thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát được triển khai tích cực.

- Công tác quản lý nhà nước được tăng cường, các cấp chính quyền đã tập trung củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn đầu mối, hiệu quả, sát nhu cầu thực tiễn; tổ chức thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND, thí điểm bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch UBND tại một số địa phương; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính và chế độ công vụ, công chức; tăng cường tổ chức thanh tra, kiểm tra công vụ tại các cơ quan, đơn vị; tiến hành luân chuyển, chuyển đổi vị trí công tác gần 250 trường hợp.

- Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân các cấp từng bước hoàn thiện về tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động theo hướng ngày càng cụ thể, thiết thực, hiệu quả, hướng về cơ sở; thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân, nhân sỹ trí thức, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số ủng hộ, đồng thuận và tích cực thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động ngày càng thiết thực, có tác dụng sâu, rộng, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Công tác xây dựng chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể nhân dân còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Số lượng, nội dung các cuộc giám sát của HĐND chưa bao quát toàn diện các lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội; chất lượng, hiệu quả một số cuộc giám sát chưa cao; việc xem xét, giải quyết các kiến nghị sau giám sát chậm được thực hiện; phản hồi kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri có lúc, có việc chưa được đầy đủ.

- Việc tuân thủ các thủ tục hành chính tại một số đơn vị chưa tốt; hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin chưa tương xứng với quy mô đầu tư; vẫn còn tình trạng một số cán bộ, công chức nhũng nhiễu, gây phiền hà cho tổ chức, công dân, hồ sơ giải quyết chậm trễ, tồn đọng; chất lượng cung cấp các dịch vụ công về y tế, giáo dục còn hạn chế; sự phối hợp thực hiện nhiệm vụ mang tính chất liên ngành có lúc, có nơi chưa tốt.

- Ở một số nơi, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân chậm được đổi mới, chưa sát hợp với từng đối tượng, khu vực, địa bàn, chưa thu hút được đông đảo thành viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân tham gia, hưởng ứng;­ việc xây dựng các tổ chức đoàn thể trong doanh nghiệp ngoài nhà nước còn gặp nhiều khó khăn; số lượng, chất lượng lực lượng cốt cán còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu; việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân chưa kịp thời; công tác tham mưu cho cấp ủy về chủ trương, giải pháp thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, tôn giáo còn hạn chế.

7. Công tác xây dựng Đảng được đặc biệt chú trọng, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ được đổi mới

- Công tác tuyên truyền, quán triệt, tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được đổi mới; tăng cường thông tin thời sự; phát huy mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, quần chúng ưu tú, đặc biệt là đoàn viên thanh niên.

- Công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ có nhiều chuyển biến tích cực, hoàn thành quy hoạch cán bộ chủ chốt tỉnh nhiệm kỳ 2015- 2020; thực hiện việc điều động, luân chuyển, bố trí sử dụng cán bộ gắn với công tác bảo vệ chính trị nội bộ; xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, Quy định tạm thời Bộ tiêu chí đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý.

- Đã thực hiện nhiều giải pháp về bồi dưỡng, tạo nguồn, kết nạp đảng viên mới, nhất là tại những địa bàn, lĩnh vực có ít đảng viên; xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án kết nạp đảng viên, phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước; tỷ lệ kết nạp đảng hàng năm đạt 7% so tổng số đảng viên; tỷ lệ đảng viên trong ngành y tế, giáo dục, lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đều tăng. Chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW của Ban Bí thư được nâng lên, nội dung, hình thức sinh hoạt được đổi mới, đi vào nền nếp, khắc phục dần tính hình thức. Chất lượng công tác đánh giá tổ chức đảng, đảng viên từng bước đúng thực chất hơn; tổ chức đảng đạt trong sạch, vững mạnh hàng năm trên 85%, cơ sở đảng yếu kém dưới 0,6%; đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 89%.

- Lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI; việc kiểm điểm được chuẩn bị nghiêm túc, đạt yêu cầu, đúng tiến độ, bám sát nội dung của Nghị quyết và các gợi ý của Bộ Chính trị; tập trung phân tích đánh giá các mặt còn hạn chế yếu kém, đi sâu phân tích các nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan với tinh thần thẳng thắn, trách nhiệm, xây dựng, từ đó đã xác định những nhóm giải pháp và các công việc cần tập trung chỉ đạo khắc phục hạn chế, khuyết điểm. Đến nay, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các cấp ủy đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị đã cơ bản khắc phục những hạn chế, khuyết điểm được chỉ ra sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4.

- Chú trọng các giải pháp nâng cao hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng bộ, cụ thể hóa việc “làm theo” với thực hiện nhiệm vụ được giao của cá nhân, tập thể; đưa nhiệm vụ này trở thành nền nếp thường xuyên, tác động tích cực đến công tác phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nâng cao rõ rệt ý thức trách nhiệm, tính tự giác nêu gương, nói đi đôi với làm và tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức.

- Cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã tiến hành kiểm tra, giám sát 6.916 tổ chức đảng và 19.308 đảng viên, với các nội dung: tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống; nguyên tắc tập trung dân chủ và những lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực. Sau kết luận kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng đã triển khai khắc phục những hạn chế đã chỉ ra. Giải quyết kịp thời các đơn thư khiếu nại, tố cáo đảng viên. Tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp được nâng cao về số lượng và chất lượng.

- Các cấp ủy đảng đã có nhiều đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo công tác dân vận trong tình hình mới; chính quyền các cấp cải tiến lề lối làm việc theo hướng gần dân, sát dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; phong trào thi đua Dân vận khéo” đạt được nhiều kết quả thiết thực, nhiều mô hình, điển hình được xây dựng, nhân rộng và phát huy tác dụng; hệ thống dân vận các cấp được xây dựng, củng cố, kiện toàn và phát huy vai trò trong hoạt động; 100% tổ dân vận ở địa bàn dân cư được thành lập và hoạt động nền nếp; Quy chế dân chủ ở cơ sở được chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc, tạo sự đồng thuận trong xã hội, tăng cường mối quan hệ gắn bó, mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân.

Công tác xây dựng Đảng còn một số hạn chế, khuyết điểm:

- Công tác tư tưởng, thông tin, tuyên truyền có lúc, có việc chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là nắm bắt, phản bác lại những thông tin xấu, sai sự thật; hình thức, nội dung, phương pháp tuyên truyền chưa phù hợp với từng đối tượng cụ thể; chất lượng của Báo Bà Rịa - Vũng Tàu, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh chưa được cải thiện; chưa có giải pháp để nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên; kết quả triển khai, thực hiện Chỉ thị 03 về học tập và làm theo tấm, gương đạo đức Hồ Chí Minh chưa đồng đều, việc gắn thực hiện Chỉ thị với nhiệm vụ chính trị ở một số đơn vị, địa phương chưa tốt.

- Công tác quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ chưa theo kịp yêu cầu, trong một số trường hợp bố trí cán bộ không phát huy được tác dụng; chưa kịp thời điều chuyển, xử lý những cán bộ yếu kém, có sai phạm; công tác cải cách hành chính trong Đảng chậm được thực hiện; việc tạo nguồn kết nạp đảng viên trong một số lĩnh vực, việc xây dựng, phát triển tổ chức đảng, đảng viên trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, ở địa bàn dân cư còn khó khăn, đạt tỷ lệ thấp. Ở một số nơi, kết quả đánh giá chất lượng tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên còn nể nang, chạy theo thành tích, chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị số 10-CT/TW chưa đạt yêu cầu.

- Công tác kiểm tra, giám sát tại một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa hiệu quả; một số ủy ban kiểm tra, các ban cấp ủy các cấp chưa làm tốt chức năng tham mưu giúp cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; chưa mạnh dạn đề xuất với cấp ủy nội dung kiểm tra, giám sát cấp ủy viên cùng cấp và những lĩnh vực nổi cộm, bức xúc mà nhân dân quan tâm, nhất là kiểm tra, giám sát khi có dấu hiệu vi phạm. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của một số cấp ủy đảng, của ngành về phòng, chống tham nhũng có lúc chưa sâu sát, kịp thời, chưa bám sát nhiệm vụ chính trị được giao.

- Kết quả đạt được của công tác dân vận chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; việc nắm bắt tâm tư, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để đề xuất giải quyết những vấn đề phát sinh chưa kịp thời; công tác dân vận của chính quyền và tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở một số sở, ngành, địa phương chưa được coi trọng; một số nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân chưa được đề đạt, xem xét, giải quyết kịp thời.

8. Đánh giá tổng quát thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V

5 năm qua, mặc dù phải đối mặt với nhiều thách thức nhưng Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã nỗ lực khắc phục khó khăn, đạt được những thành quả quan trọng, có 56/71 chỉ tiêu[1] chủ yếu đạt và vượt so với Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ V đề ra. Kinh tế phát triển đúng hướng; hệ thống cảng biển được đầu tư mạnh mẽ; thu hút được nhiều dự án chất lượng cao; thu ngân sách hàng năm đều vượt kế hoạch, đóng góp lớn cho ngân sách quốc gia. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội có bước tiến bộ; chất lượng cuộc sống của nhân dân được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, giữ vững ổn định chính trị-xã hội. Đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị; thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Chỉ thị 10-CT/TW về nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và Chỉ thị 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đáp ứng được yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên.

Những thành quả đạt được nêu trên do: Trung ương đã kịp thời đề ra nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách hiệu quả về ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; quan tâm chỉ đạo, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc, kiến nghị của tỉnh. Đảng bộ tỉnh luôn giữ vững sự đoàn kết, thống nhất, tạo được đồng thuận cao trong nhân dân đối với việc triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Trung ương và của tỉnh; cùng sự chủ động, sáng tạo, bám sát thực tiễn, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh; sự nỗ lực phấn đấu, vượt khó khăn của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, đó là: 15/71 chỉ tiêu[2] chủ yếu đạt thấp so với Nghị quyết; phát triển cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh; nhiều dự án chậm triển khai nhưng chưa được thu hồi; công nghiệp hỗ trợ chậm phát triển; hạ tầng giao thông kết nối hệ thống cảng chưa đồng bộ; công tác quản lý nhà nước về đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường và thu hút đầu tư còn nhiều sai sót, bất cập; chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp còn chậm, thu hút nguồn lực xã hội đầu tư cho phát triển còn hạn chế; cải cách hành chính chưa đạt yêu cầu, môi trường đầu tư chậm được cải thiện; văn hóa - thể thao, xã hội, y tế, giáo dục chưa đáp ứng nhu cầu của nhân dân; trật tự an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp, số vụ tai nạn giao thông, vi phạm pháp luật về ma túy tăng so với cùng kỳ; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chậm, hiệu quả chưa cao; công tác xây dựng Đảng, chính quyền còn nhiều vấn đề phải tiếp tục nỗ lực khắc phục; thực hiện kỷ luật, kỷ cương, công vụ và các kết luận sau kiểm tra, giám sát chưa nghiêm, công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể tuy có nhiều cố gắng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.

Những hạn chế, khuyết điểm trên do nguyên nhân khách quan từ ảnh hưởng tiêu cực của khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới, những khó khăn của kinh tế trong nước; tình hình phức tạp trên Biển Đông; sản lượng và giá dầu khí bị sụt giảm; Trung ương chỉ đạo chưa đủ mạnh để phát triển hệ thống cảng trung chuyển quốc tế Cái Mép - Thị Vải, chỉ đạo liên kết phát triển vùng chưa hiệu quả, đã tác động đến việc thực hiện các chỉ tiêu, mục tiêu quan trọng của tỉnh trong nhiệm kỳ qua. Về nguyên nhân chủ quan do tầm nhìn, khả năng dự báo tình hình của tỉnh còn hạn chế; việc xây dựng một số chỉ tiêu, nhiệm vụ chưa sát thực tế; công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, sự điều hành của UBND tỉnh đối với một số việc còn chậm, chưa thật quyết liệt, hiệu quả chưa cao; sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương còn yếu; năng lực cạnh tranh cấp tỉnh còn thấp, nhiều chỉ số chậm được cải thiện; công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, vai trò lãnh đạo của người đứng đầu và tổ chức đảng ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương chưa được phát huy, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thật sự gương mẫu về đạo đức, lối sống, tinh thần phục vụ nhân dân, là điểm yếu quan trọng cản trở sự phát triển.

9. Một số kinh nghiệm

- Một là, Giữ vững sự đoàn kết, nhất trí trong toàn Đảng bộ trên cơ sở thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy yếu tố tích cực của cá nhân, quy tụ được trí tuệ tập thể, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội là nhân tố quyết định những thành quả của Đảng bộ tỉnh.

- Hai là, Khi xác định kế hoạch, công việc, nhiệm vụ phải sát thực tế; mục tiêu phải rõ ràng; biện pháp phải khả thi, hiệu quả; quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phải quyết liệt, cụ thể; thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

- Ba là, Chỉ đạo mạnh mẽ, kiên trì công tác cải cách hành chính, thanh tra, kiểm tra công vụ, kịp thời xử lý, chuyển đổi vị trí công tác đối với những cán bộ, công chức, viên chức ở các khâu, lĩnh vực trì trệ, yếu kém, có nhiều dư luận xấu;  coi trọng và quan tâm sử dụng người tài, có phẩm chất tốt.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2016-2020        

1. Dự báo tình hình trong 5 năm tới

Trên thế giới, tình hình sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, nền kinh tế phục hồi chậm, không đồng đều và còn nhiều biến động khó lường, đặc biệt là giá dầu, sự bất ổn về tài chính tiền tệ và nợ công tiếp tục gây ra những hiệu ứng bất lợi đối với nền kinh tế thế giới; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình của tỉnh. 5 năm tới, nước ta thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO), tham gia các hiệp định tự do thương mại thế hệ mới, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước; kinh tế từng bước thoát khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức; kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao; năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp.

Ở trong tỉnh, tình hình chính trị - xã hội ổn định, tiềm lực kinh tế và các điều kiện phát triển được tăng cường, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội đang từng bước được đầu tư, ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là hệ thống cảng biển, các khu công nghiệp, khu du lịch, cùng với một số kinh nghiệm tích lũy được trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành nhiệm kỳ trước, tạo tiền đề cho tỉnh phát triển trong thời gian tới. Bên cạnh đó, tỉnh vẫn còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: thiếu nguồn lực để đầu tư, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, các vấn đề về tội phạm hình sự, tai nạn giao thông, ma túy, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp.

Tình hình thế giới, trong nước và của tỉnh đan xen cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức, đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp của tỉnh phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, phấn đấu quyết liệt hơn nữa trong giai đoạn tới.

2. Một số quan điểm phát triển tỉnh trong giai đoạn 2016– 2020

2.1. Phát huy lợi thế về kinh tế biển, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng mạnh tỷ trọng dịch vụ; xác định phát triển công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du lịch là nhiệm vụ trung tâm.

2.2. Thực hiện mô hình kinh tế phát triển theo chiều sâu, có hiệu quả, bảo đảm bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái và tài nguyên thiên nhiên.

2.3. Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ trong xây dựng và thực thi thể chế, pháp luật, cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

2.4. Xác định cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý các cấp, các ngành là nguồn nhân lực quan trọng, là yếu tố quyết định đến sự phát triển của tỉnh. Do đó, cần nâng cao chất lượng tuyển chọn, đào tạo, thử thách và bố trí cán bộ; có chính sách thu hút người tài; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là chế độ công vụ, công chức và tăng cường đối thoại với doanh nghiệp, người dân trong thực thi chính sách.

2.5. Phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân ngày càng vững chắc, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

2.6. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành đối với công tác Đảng, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể, trọng tâm là đổi mới việc chỉ đạo xây dựng nghị quyết, kế hoạch, chương trình hành động và tổ chức thực hiện theo hướng sát thực, cụ thể, khả thi, hiệu quả.

3. Mục tiêu tổng quát giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng giai đoạn tiếp theo

Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết toàn dân; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh; cải thiện chất lượng cuộc sống nhân dân; bảo đảm ổn định chính trị, xã hội; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc; phát triển Bà Rịa - Vũng Tàu thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du lịch.

4. Các chỉ tiêu chủ yếu 5 năm 2016 – 2020

4.1. Về phát triển kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân trừ dầu khí 7%/năm; GRDP bình quân đầu người trừ dầu khí đến năm 2020 đạt 7.000 USD.

- Cơ cấu kinh tế trừ dầu khí: công nghiệp, xây dựng 54,15% - dịch vụ 35,6% - nông nghiệp 10,25%.

- Giá trị sản xuất công nghiệp trừ dầu khí tăng 7,6%/năm.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 10%; dịch vụ cảng tăng 6,65%/năm.

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 3,53%/năm, lâm nghiệp tăng 1,24%/năm, ngư nghiệp tăng 4,95%/năm.

- Giá trị xuất khẩu trừ dầu khí 19,8 tỷ USD, tăng bình quân 10%/năm.

- Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội 206.606 tỷ đồng, tăng 1,39%/năm.

- Tổng thu ngân sách nội địa trên địa bàn đạt 173.515 tỷ đồng, tăng 4,19%/năm. Tổng chi ngân sách địa phương khoảng 82.092 tỷ đồng, tăng 4,68%/năm.

4.2. Về văn hóa - xã hội

- Tốc độ tăng dân số tự nhiên 10,3%o/năm, mức giảm sinh 0,1%o/năm, tuổi thọ trung bình 75 tuổi.

- Đến năm 2020: số cháu đi nhà trẻ đạt tỷ lệ 30% và mẫu giáo đạt 92,5% số trẻ trong độ tuổi; 90% học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở vào trung học phổ thông hoặc tương đương; 85% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ trung học phổ thông và tương đương.

- Đến năm 2020: có 26 giường và 8,5 bác sĩ trên vạn dân; tỷ lệ xã có bác sĩ đạt 40%; 100% xã, phường, thị trấn đạt bộ tiêu chí về y tế xã; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 81%.

- Hoàn thành chỉ tiêu giảm nghèo theo chuẩn mới của tỉnh; giải quyết việc làm cho 160.000 lượt lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 80%.

4.3. Về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

- Tỷ lệ che phủ cây xanh đạt 44,2%; tỷ lệ che phủ rừng đạt 13,4%.

- 100% dân số thành thị, 90% dân số nông thôn được cung cấp nước sạch.

- 95% rác thải sinh hoạt đô thị, 100% rác thải y tế và rác thải công nghiệp (thông thường, nguy hại) được thu gom và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường.

- 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% cơ sở sản xuất xây dựng mới phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm đạt tiêu chuẩn môi trường.

4.4. Về công tác nội chính

- Tỷ lệ đảng viên trong dân quân đạt 20%, trong tự vệ đạt 25%, trong quân nhân dự bị đạt 10% trở lên; xây dựng 100% ban chỉ huy quân sự cấp xã đạt vững mạnh toàn diện; nâng cao chất lượng tuyển quân, đạt 100% chỉ tiêu; đảng viên nhập ngũ (kết nạp trên 6 tháng) từ 2% trở lên. 

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình 4 giảm; nhất là kiềm chế, kéo giảm số vụ vi phạm pháp luật về ma túy và số người chết vì tai nạn giao thông.

- Tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt trên 90%; tỷ lệ điều tra các vụ án trên 70%; án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung không quá 6%.

- Xét xử từ 95% trở lên đối với án hình sự, từ 90% trở lên đối với án dân sự và từ 85% trở lên đối với án hành chính; tỷ lệ án bị hủy, sửa do sai thấp hơn chỉ tiêu Tòa án nhân dân tối cao quy định.

- Thi hành án dân sự xong đạt tỷ lệ 90% về việc và 77% về tiền.

- Giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo đạt tỷ lệ 85%.

4.5. Về công tác Mặt trận và các đoàn thể

- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc: 95% ban công tác Mặt trận khu phố, thôn, ấp đạt vững mạnh, không có yếu kém; 100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, cấp xã đạt vững mạnh.

- Liên đoàn lao động: 100% doanh nghiệp có 20 lao động trở lên (đủ điều kiện theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam) có tổ chức công đoàn; trên 50% công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước đạt danh hiệu vững mạnh.

- Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: 90% cơ sở đoàn và 100% cơ sở hội đạt vững mạnh trở lên; 30% doanh nghiệp có từ 50 lao động trong độ tuổi thanh niên trở lên có tổ chức Đoàn Thanh niên.

- Hội nông dân: hàng năm có từ 50% trở lên nông dân đạt danh hiệu sản xuất - kinh doanh giỏi các cấp, 90% cơ sở hội trở lên xếp loại vững mạnh.

- Hội liên hiệp phụ nữ: duy trì, củng cố, nâng cao chất lượng hội viên, tổ chức hội; 90% cơ sở hội liên hiệp phụ nữ xã, phường, thị trấn đạt vững mạnh.

- Hội cựu chiến binh: xây dựng 20 tổ chức hội cựu chiến binh trong doanh nghiệp ngoài nhà nước; 100% tổ chức hội các cấp đạt trong sạch, vững mạnh, trong đó có từ 70% - 80% đạt trong sạch vững mạnh xuất sắc.

4.6. Vcông tác xây dựng Đảng

- Tỷ lệ cán bộ, đảng viên được bồi dưỡng lý luận chính trị đạt 100%, đào tạo lý luận chính trị đạt 70% trở lên, đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ đạt 40% trở lên.

- Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia cấp ủy không dưới 15%, tham gia các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp từ 30% trở lên; tỷ lệ cán bộ trẻ tham gia cấp ủy không dưới 10%.

- Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ từ 90% trở lên. Kết nạp được trên 8.500 đảng viên; trong đó kết nạp 400 đảng viên và phát triển 30 tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước.

- Tổ dân vận, khối dân vận, ban dân vận hoạt động tốt, đạt tỷ lệ từ 90% trở lên, không có trung bình và yếu kém.

- Tăng từ 10- 20% số lượng các cuộc kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp; xử lý đạt 100% số vụ được phát hiện khi tiến hành kiểm tra.

5. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

5.1. Phát triển mạnh công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du lịch; chú trọng phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với xây dựng nông thôn mới; nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư; tăng cường quản lý quy hoạch, xây dựng, đất đai, tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường

a) Công nghiệp

- Tạo điều kiện để thu hút, phát triển các dự án công nghiệp sử dụng công nghệ hiện đại, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, tiêu tốn ít năng lượng, thân thiện với môi trường, có sức cạnh tranhlan tỏa; xác định rõ các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ chủ yếu để kêu gọi đầu tư; tích cực hỗ trợ khởi công xây dựng, hoàn thành đưa vào hoạt động dự án Tổ hợp Hóa dầu miền Nam và các dự án công nghiệp lớn khác; tạo điều kiện để phát triển các ngành hạ nguồn sau hóa dầu.

- Rà soát, điều chỉnh quy hoạch các khu, cụm công nghiệp một cách hợp lý theo hướng không gian phát triển các khu, cụm công nghiệp phải phù hợp với khả năng chịu tải của môi trường, tiết kiệm được quỹ đất, bảo đảm mục tiêu phát triển các khu công nghiệp bền vững, thu hút các dự án có chất lượng, mục tiêu các cụm công nghiệp nhằm chuyển dịch lao động nông thôn và di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong khu dân cư.

- Thúc đẩy tiến độ đầu tư hạ tầng, tăng tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp gắn với việc chọn lọc dự án khi thu hút đầu tư; trong đó, tập trung bồi thường giải phóng mặt bằng, khẩn trương hoàn thành hạ tầng, khai thác có hiệu quả khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3, Khu công nghiệp Đá Bạc giai đoạn 1 để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

b) Cảng biển và dịch vụ hậu cần cảng

- Tập trung mọi nỗ lực để phát triển hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải thành cảng trung chuyển quốc tế; đấu thầu quốc tế, hoàn thành lập quy hoạch chi tiết, kêu gọi đầu tư và đưa vào hoạt động Trung tâm dịch vụ hậu cần cảng Cái Mép Hạ; tiếp tục cải cách các thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập và quá cảnh qua các cảng; tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng kết nối hệ thống cảng với các tuyến đường trong khu vực; hoàn thành tuyến đường liên cảng Cái Mép- Thị Vải, đường Phước Hòa - Cái Mép, đường 991B.

- Hỗ trợ, thúc đẩy việc sáp nhập các cảng nhỏ thành các cảng có quy mô lớn hơn; đầu tư các dự án cảng thủy nội địa kết hợp kho bãi; tăng cường quản lý quỹ đất được quy hoạch cho phát triển cảng và dịch vụ hậu cần cảng; triển khai quyết liệt các giải pháp để bảo đảm an ninh trật tự cho các bến cảng; chú trọng đào tạo nguồn nhân lực tại địa phương và đầu tư khu vui chơi, giải trí cho sĩ quan, thủy thủ làm việc trên tàu biển để phục vụ cho hoạt động của các cảng biển và Trung tâm dịch vụ hậu cần cảng.

- Kiến nghị Trung ương có sự chỉ đạo mạnh mẽ, có cơ chế, chính sách để phát triển hệ thống cảng trung chuyển quốc tế Cái Mép - Thị Vải, tiếp tục nạo vét bảo đảm độ sâu luồng tuyến, giảm phí, lệ phí hàng hải để thu hút tàu đến cảng và đầu tư các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa kết nối các tỉnh với hệ thống cảng Thị Vải – Cái Mép, trong đó ưu tiên cầu Phước An, các tuyến đường cao tốc và đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu.

c) Du lịch

- Tập trung phát triển du lịch nghỉ dưỡng biển; du lịch hội nghị, hội thảo (MICE); du lịch sinh thái chất lượng cao; du lịch lịch sử, tâm linh. Lựa chọn một số khu đất có vị trí lợi thế, tiềm năng để kêu gọi các nhà đầu tư có đẳng cấp quốc tế đủ năng lực, kinh nghiệm đầu tư phát triển các dự án du lịch lớn, chất lượng cao, có tác dụng thúc đẩy ngành du lịch phát triển. Trên cơ sở đó, rà soát, bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch phát triển du lịch, tập trung cho các khu vực tiềm năng, lợi thế của tỉnh như tuyến ven biển Vũng Tàu - Long Hải - Phước Hải - Xuyên Mộc, khu vực Núi Dinh và huyện Côn Đảo; quy hoạch, xây dựng và có cơ chế quản lý thích hợp các bãi tắm công cộng phục vụ cho người dân.

- Quy hoạch địa điểm, kêu gọi đầu tư cảng tàu khách du lịch; huy động vốn ngân sách và các nguồn vốn khác để đầu tư hạ tầng về giao thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, thông tin liên lạc phục vụ cho các khu du lịch đã được quy hoạch và các dự án du lịch trọng điểm; có giải pháp thúc đẩy chủ đầu tư các dự án du lịch đã được cấp phép chuyển vốn đăng ký sang vốn thực hiện, hoàn thành đưa dự án đi vào hoạt động.

- Xây dựng và tổ chức thực hiện Đề án bảo đảm an ninh du lịch, Đề án bảo đảm môi trường du lịch; tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các cơ sở du lịch, đặc biệt là quản lý giá dịch vụ; xây dựng, yêu cầu thực hiện quy định những tiêu chuẩn tối thiểu đối với các cơ sở kinh doanh du lịch và dịch vụ ăn, nghỉ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng phục vụ của các cơ sở du lịch; tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến; xây dựng văn hóa du lịch văn minh; tạo môi trường du lịch lành mạnh, thân thiện, hấp dẫn du khách.

d) Phát triển dịch vụ khác

Phát triển các dịch vụ thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thông tin - truyền thông, vận tải, kinh doanh bất động sản, tư vấn pháp lý, tư vấn đầu tư, chuyển giao công nghệ, y tế, giáo dục, đào tạo..., đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển và góp phần tăng tỷ trọng dịch vụ của tỉnh.

đ) Ngành nông, lâm, ngư nghiệp

- Thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao cho các sản phẩm cây trồng, vật nuôi có lợi thế so sánh của tỉnh, có cơ chế, chính sách để khuyến khích các doanh nghiệp và tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này. Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi; xây dựng từ 5 đến 7 vùng sản xuất trồng trọt ứng dụng công nghệ cao; phát triển các trang trại, gia trại quy mô lớn và vừa theo phương thức nuôi công nghiệp; phổ biến mô hình chăn nuôi khép kín, liên kết giữa các khâu sản xuất - giết mổ - tiêu thụ; phát triển mô hình sản xuất khép kín trên một số cây trồng chính của tỉnh, từ khâu quy hoạch vùng sản xuất, tổ chức sản xuất theo quy trình VietGAP đến khâu kết nối với các doanh nghiệp trong xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, tổ chức thu mua, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ chế biến sau thu hoạch; tạo cơ chế khuyến khích liên kết “5 nhà” (nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà băng - ngân hàng) trong sản xuất nông nghiệp và lấy phát triển doanh nghiệp trong nông nghiệp là hạt nhân.

- Tiếp tục hỗ trợ ngư dân đóng mới, nâng cấp tàu cá đánh bắt xa bờ, tăng thêm tàu dịch vụ hậu cần thủy sản gắn với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo; ứng dụng công nghệ, thiết bị hiện đại trong khai thác, bảo quản sản phẩm; duy trì nuôi trồng thủy sản ở quy mô hợp lý gắn với ứng dụng khoa học, công nghệ mới, bảo vệ được môi trường sinh thái.

- Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng phục vụ ngư nghiệp: hoàn thành các khu neo đậu tránh trú bão tại Sông Dinh, Côn Đảo, Bến Lội - Bình Châu; triển khai các dự án khu neo đậu tránh trú bão tại Cửa Lấp, Lộc An; nâng cấp các cảng cá và đầu tư trung tâm nghề cá phục vụ cho phát triển thủy sản.  

- Bảo vệ và phát triển diện tích rừng hiện có gắn với du lịch sinh thái; trồng mới 3.390 ha rừng tập trung gồm 1.150 ha rừng phòng hộ, đặc dụng và 2.240 ha rừng sản xuất, trong đó tập trung vào khu vực rừng nghèo, rừng bị phá; bảo vệ và đầu tư phát triển rừng ngập mặn, cảnh quan, đặc biệt là khu vực cửa ngõ thành phố Bà Rịa và Vũng Tàu.

- Thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới; giữ vững các tiêu chí đạt được của các xã được công nhận giai đoạn 2011 – 2015; phấn đấu đến năm 2020 có 32/43 xã (tỷ lệ 74%) đạt tiêu chí nông thôn mới và 2 huyện nông thôn mới (Đất Đỏ, Long Điền), nếu có thêm nguồn lực sẽ tập trung đầu tư cho các xã của huyện Châu Đức; nâng cao hơn nữa mức sống, thu nhập của nhân dân khu vực nông thôn; chú trọng cải thiện môi trường sống, ngăn chặn và cơ bản xử lý dứt điểm việc phát tán ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn.

e) Về thu hút đầu tư, phát triển doanh nghiệp, doanh nhân và kinh tế hợp tác

- Thực hiện nghiêm chủ trương thu hút đầu tư có chọn lọc, chú trọng thu hút đầu tư các dự án lớn, công nghệ hiện đại, có sức lan tỏa, sản phẩm có giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường và các dự án công nghiệp hỗ trợ; hạn chế thu hút những dự án không đạt được những tiêu chí trên. Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư theo hướng nâng cao vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của chủ đầu tư và theo đúng định hướng của tỉnh; xây dựng danh mục các nhà đầu tư chiến lược, tiềm năng, có đẳng cấp, thế mạnh, năng lực, kinh nghiệm để tiếp cận và mời gọi đầu tư vào tỉnh.

- Đầu tư cơ sở hạ tầng các đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, hệ thống giao thông kết nối, huy động các nguồn vốn đầu tư cho các công trình giao thông trọng điểm, tạo thuận lợi cho việc triển khai các dự án đầu tư; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, tăng cường các kênh trao đổi thông tin với doanh nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI).

- Tăng cường công tác hậu kiểm hàng năm, đặc biệt lưu ý đối với các vấn đề rà soát tiến độ thực hiện dự án, chống chuyển giá, gian lận đầu tư, việc chấp hành chính sách, pháp luật về môi trường, lao động... Hỗ trợ nhà đầu tư tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, thúc đẩy tiến độ thực hiện dự án; xây dựng tiêu chí lựa chọn và biện pháp chế tài đối với các dự án; kiên quyết thu hồi các dự án chậm triển khai do nguyên nhân từ phía nhà đầu tư. Dự kiến 5 năm tới thu hút 100 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 3 tỷ USD, 100 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký 50 ngàn tỷ đồng.

- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của tỉnh; tạo môi trường bình đẳng, thuận lợi, hỗ trợ doanh nghiệp, doanh nhân mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả hoạt động; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức, văn hóa kinh doanh, trách nhiệm xã hội, tinh thần dân tộc cho đội ngũ doanh nhân; phát huy vai trò các tổ chức đại diện của cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quan điểm xây dựng và phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã; thực hiện đầy đủ các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với hợp tác xã; vận động thành lập, tăng nhanh số lượng hợp tác xã, chú trọng phát triển các hợp tác xã thương mại, dịch vụ, vận tải, tín dụng.

g) Về công tác quản lý quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường

- Nâng cao chất lượng lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch; thường xuyên rà soát các loại quy hoạch đã lập để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo tạo sự thống nhất cao giữa các loại quy hoạch, ứng dụng công nghệ thông tin để khớp nối các quy hoạch với nhau, bảo đảm sự thống nhất về cao độ, ranh giới, diện tích, hạ tầng và các thông tin khác của quy hoạch; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp trong việc báo cáo, cho chủ trương và quyết định điều chỉnh quy hoạch; tăng cường quản lý và thực hiện theo quy hoạch; công khai, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận các quy hoạch đã được phê duyệt; tổ chức lập thiết kế đô thị và ban hành quy chế quản lý đối với các tuyến đường, phố chính, các khu vực có yêu cầu cao về kiến trúc cảnh quan, các điểm nhấn đô thị; xử lý dứt điểm các vấn đề liên quan đến đất đai sau khi thu hồi các dự án chậm triển khai, quy hoạch không khả thi và việc xây dựng không phép, trái phép, không đúng quy hoạch.

- Tăng cường công tác quản lý nhà nước, chú trọng thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai; giám sát chặt chẽ việc thực hiện quy hoạch, quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; xây dựng, ban hành quy trình, biểu mẫu để áp dụng thống nhất cho từng loại công việc, từng cấp chính quyền trong lĩnh vực đất đai; lập quy hoạch và triển khai xây dựng các khu tái định cư trên địa bàn các huyện, thành phố bảo đảm phù hợp với nhu cầu sử dụng của người dân; tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng.

- Tăng cường công tác quản lý quy hoạch và cấp phép khai thác khoáng sản; thường xuyên kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định; chế tài bắt buộc các chủ mỏ phải phục hồi môi trường sau khai thác.

- Thường xuyên tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế và nhân dân, từ đó tạo sự chuyển biến về nhận thức và có những hành động thiết thực để bảo vệ môi trường. Nâng cao chất lượng đánh giá tác động môi trường đối với các dự án được cấp phép, đồng thời yêu cầu các cơ sở sản xuất kinh doanh phải áp dụng công nghệ sạch hoặc trang bị các thiết bị giảm thiểu ô nhiễm, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường theo báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt; kịp thời kiểm tra và có biện pháp chế tài nghiêm khắc đối với các cơ sở phát thải ô nhiễm.

- Quản lý tốt việc xử lý khí thải, nước thải, rác thải sinh hoạt và các loại chất thải rắn, bảo đảm nguyên tắc không gây ô nhiễm môi trường, không đưa rác thải sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp từ địa phương khác về tỉnh xử lý; sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất đai khu xử lý chất thải 100 ha Tóc Tiên; thực hiện lắp đặt hệ thống quan trắc tự động chất lượng nước và không khí tại các khu vực nhạy cảm về môi trường, các khu, cụm công nghiệp và các cơ sở có nguồn nước thải, khí thải lớn; triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số khu vực (khu vực chế biến hải sản Tân Hải, khu vực chế biến hải sản Cửa Lấp và khu Bến Đình, khu vực ao Hải Hà); sớm hoàn thành đầu tư nhà máy xử lý bụi thép, 2 cụm công nghiệp phục vụ di dời các cơ sở gây ô nhiễm trong khu dân cư trên địa bàn thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa và các khu chế biến hải sản tập trung; chuyển đổi công năng và chấm dứt hoạt động sản xuất bột cá; bảo vệ nghiêm ngặt nguồn nước sinh hoạt và các đồi cát ven biển của tỉnh.

- Xây dựng kế hoạch, chủ động triển khai các công việc cần thiết để ứng phó với các tác động của biến đổi khí hậu; đề ra giải pháp và đầu tư chống xói lở có hiệu quả khu vực ven biển từ Vũng Tàu đến Bình Châu. Đẩy mạnh thực hiện công tác tuyên truyền về biển và hải đảo cho cán bộ, nhân dân trong tỉnh.

h) Về thu, chi ngân sách

Triển khai các giải pháp để hoàn thành các chỉ tiêu thu ngân sách của cả nhiệm kỳ, đồng thời bảo đảm nuôi dưỡng nguồn thu và thúc đẩy tăng trưởng, phấn đấu thu vượt dự toán hàng năm để có nguồn chi đáp ứng nhu cầu cho đầu tư phát triển; ngoài nguồn vốn ngân sách tỉnh được hưởng, cần thực hiện các giải pháp để huy động các nguồn vốn khác nhằm bổ sung thêm nguồn lực đầu tư hệ thống hạ tầng giao thông kết nối và các công trình hạ tầng kỹ thuật cần thiết khác (phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vốn vay, đấu giá quyền sử dụng đất, ODA, hợp tác công tư PPP, Quỹ đầu tư phát triển tỉnh…); tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra hoạt động thuế, hải quan; kiểm soát chi ngân sách đúng quy định, hiệu quả, tiết kiệm, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

5.2. Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể thao; tăng cường đầu tư cho khoa học và công nghệ; quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội

a) Giáo dục và đào tạo

- Chuẩn bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý để tiếp thu và triển khai hiệu quả chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo của Trung ương, nhất là việc thực hiện chương trình học và sách giáo khoa mới.

- Nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học, ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở trường lớp và đội ngũ giáo viên mầm non nhất là trên địa bàn thành phố Vũng Tàu và nơi có đông công nhân lao động; duy trì và nâng cao thành quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập mầm non 5 tuổi, trung học cơ sở; thực hiện các giải pháp phân luồng sau trung học cơ sở, tăng quy mô trung học phổ thông hợp lý ở những nơi có đủ điều kiện; thực hiện có hiệu quả đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân trên địa bàn tỉnh.

- Làm tốt công tác dự báo nhu cầu để có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phù hợp, gắn với nhu cầu sử dụng; rà soát, điều chỉnh, bổ sung và tiếp tục triển khai các đề án đào tạo nguồn nhân lực đã được phê duyệt; tăng cường liên kết và nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề, cao đẳng, đại học, đáp ứng kịp thời số lượng, chất lượng lao động cho các dự án phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, chú trọng vào các dự án sử dụng công nghệ cao; nâng cao chất lượng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn; tạo điều kiện về địa điểm, đất đai, đẩy mạnh xã hội hóa, hỗ trợ lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, nhất là dạy nghề chất lượng cao; tập trung xây dựng Trường Cao đẳng Nghề tỉnh hướng đến đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

b) Khoa học và công nghệ

- Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại của nước ngoài gắn với việc thẩm định, cấp phép đầu tư các dự án mới vào tỉnh. Tăng thêm tỷ lệ vốn ngân sách đầu tư cho việc nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống, tập trung cho các lĩnh vực như: ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, bảo quản, chế biến sau thu hoạch; đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; phòng, chống xói lở bờ biển và các ao xoáy tại các bãi tắm; phát triển năng lượng tái tạo,... và các lĩnh vực tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Xây dựng cơ chế khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, áp dụng các hệ thống quản lý tiên tiến, xây dựng và phát triển thương hiệu.

- Thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ đủ khả năng tiếp thu, làm chủ những công nghệ tiên tiến, hiện đại; đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị khoa học, công nghệ đạt tiêu chuẩn quốc gia; tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế về phát triển khoa học, công nghệ.

c) Y tế

- Nâng cao y đức, chất lượng khám, chữa bệnh; phát triển mạnh nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng; thực hiện tốt Đề án đào tạo bác sĩ, dược sĩ và nhân viên ngành y tế; thu hút và phát huy đội ngũ các chuyên gia đầu ngành y tế về địa phương công tác; tiếp tục thực hiện việc điều động, luân phiên bác sĩ từ tuyến trên xuống tuyến dưới, để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.

- Hoàn thiện mạng lưới khám, chữa bệnh và hiện đại hóa thiết bị y tế từ tuyến tỉnh đến cơ sở; đẩy mạnh hoạt động y tế dự phòng; đầu tư Bệnh viện Đa khoa Vũng Tàu 350 giường; hoàn thành Bệnh viện Y học dân tộc; khuyến khích xã hội hóa đầu tư các bệnh viện, cơ sở khám, chữa bệnh cho nhân dân.

d) Văn hóa, thể thao

- Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh đến cơ sở, tạo điều kiện phát triển phong trào văn hoá, văn nghệ, biểu diễn nghệ thuật, bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống.

- Khuyến khích, tạo điều kiện để nhân dân tham gia luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên; đẩy mạnh công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học; đầu tư xây dựng trường đào tạo năng khiếu thể thao của tỉnh.

- Bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của các di tích; đầu tư khu công viên văn hóa tỉnh tại Vạn Kiếp, thành phố Bà Rịa; đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động văn hóa, thể thao và có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở sinh hoạt văn hóa, thể thao của tư nhân, của cộng đồng như: câu lạc bộ văn hóa, câu lạc bộ thể thao, trung tâm tập luyện thể thao... 

- Tiếp tục phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; quan tâm và tạo điều kiện cho các tôn giáo sinh hoạt theo quy định của pháp luật; đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật.

đ) Về các chính sách xã hội

- Thực hiện tốt chính sách đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các Mẹ Việt Nam Anh hùng, người có công với cách mạng, gia đình chính sách; khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân quan tâm trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội và các cơ sở nuôi dưỡng tập trung; thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bảo đảm 90% trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được chăm sóc; tiếp tục thực hiện các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

- Thực hiện có hiệu quả việc chuyển dịch lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi nông nghiệp; tăng thêm các phiên giao dịch việc làm, kết nối giữa doanh nghiệp với người lao động. Tăng cường kiểm tra, chế tài xử lý, yêu cầu các chủ doanh nghiệp đóng đủ, kịp thời các loại bảo hiểm và thực hiện đầy đủ những quyền lợi hợp pháp cho người lao động theo quy định. Thúc đẩy, hỗ trợ phát triển các dự án nhà ở xã hội cho người có thu nhập thấp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, công nhân và sinh viên. 

- Nâng chuẩn nghèo của tỉnh; huy động mọi nguồn lực, triển khai đồng bộ các biện pháp giảm nghèo bền vững, không để tái nghèo, trong đó tăng cường giáo dục, nâng cao quyết tâm, sự nỗ lực của người dân vươn lên thoát nghèo, nhân rộng các mô hình giảm nghèo có hiệu quả, có giải pháp cụ thể với từng hộ nghèo và huy động sự giúp đỡ của cộng đồng trong công tác giảm nghèo.

5.3. Phát triển đồng bộ các vùng, các huyện, thành phố gắn với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam

- Hợp tác chặt chẽ với các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trên cơ sở quy hoạch vùng được phê duyệt, phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của từng địa phương; phát triển các ngành kinh tế của tỉnh, đặc biệt là phát triển cảng, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch vì mục tiêu phát triển bền vững của vùng và lợi ích quốc gia.

- Xây dựng, triển khai Đề án tái cơ cấu kinh tế của tỉnh và  Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh giai đoạn 2016 - 2025 theo hướng lấy công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng và du lịch là trọng tâm.

- Tiếp tục thực hiện các chương trình, đề án về phát triển hành lang kinh tế công nghiệp - cảng biển dọc Quốc lộ 51; trong đó, tập trung phát triển các đô thị Vũng Tàu - Gò Găng - Long Sơn, xây dựng và phát triển đô thị mới Phú Mỹ với tính chất là trung tâm công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2020. Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, phát triển hạ tầng giao thông kết nối và đẩy mạnh xúc tiến đầu tư vào các khu công nghiệp và dịch vụ cảng.

- Thúc đẩy triển khai các dự án trong hành lang du lịch dọc tuyến đường ven biển Vũng Tàu - Long Hải - Phước Hải - Bình Châu; thu hồi các dự án chậm triển khai để tiếp tục kêu gọi các doanh nghiệp khác có năng lực đầu tư; phát triển hành lang này thành tuyến du lịch trọng điểm, đa dạng, hấp dẫn và chất lượng cao của tỉnh.

- Tập trung xây dựng thành phố Vũng Tàu là đô thị loại I “xanh, sạch, đẹp, thân thiện, ấn tượng”, là trung tâm du lịch, dịch vụ hàng hải, phát triển cảng và khai thác dịch vụ dầu khí của cả nước.

- Đầu tư phát triển, nâng cao chất lượng đô thị loại II của thành phố Bà Rịa, phát triển mạnh dịch vụ, thương mại, phát huy vai trò là trung tâm hành chính - chính trị, từng bước trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục, đào tạo của tỉnh.

- Phát triển vùng kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp ở các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc, Đất Đỏ, Long Điền hình thành các mô hình xã, huyện nông thôn mới; tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao tỷ trọng chăn nuôi, phát triển sản xuất quy mô lớn và vừa, gắn với thị trường; xây dựng trang trại lớn để gắn với thu mua, chế biến, tiêu thụ theo chuỗi giá trị; hình thành các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, vùng chuyên canh rau, vùng cây ăn quả đặc sản của tỉnh, sản xuất theo quy trình an toàn, chất lượng, giá trị cao.

- Xác định Côn Đảo là địa bàn trọng điểm đầu tư của tỉnh trong 5 năm tới; huy động các nguồn lực để phát triển Côn Đảo thành Khu du lịch quốc gia chất lượng cao, hiện đại, đặc sắc tầm cỡ khu vực và quốc tế, gắn với tăng cường quốc phòng, tạo tiềm lực bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo; tập trung vốn ngân sách đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật của Côn Đảo, bao gồm: nâng cấp sân bay, phương tiện đi lại giữa đất liền với Côn Đảo, cấp điện, cấp nước, bệnh viện, đường giao thông; xây dựng Đề án thành lập thành phố Côn Đảo, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

5.4. Tăng cường quốc phòng, an ninh; bảo đảm ổn định chính trị - xã hội; đẩy mạnh cải cách tư pháp và thực hiện chương trình 4 giảm, nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Củng cố tiềm lực và xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; tập trung hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể bố trí thế trận quốc phòng - an ninh, kết hợp với phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với quốc phòng - an ninh từ công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch, trong từng công trình, dự án và từng ngành, lĩnh vực, địa bàn; thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa các lực lượng trong bảo vệ an ninh quốc gia, chủ quyền biển, đảo, phòng, tránh thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, bảo vệ nhân dân lao động sản xuất; chủ động các phương án động viên nhân, tài, vật lực, phòng ngừa, ngăn chặn có hiệu quả các tình huống về quốc phòng, an ninh; đổi mới, nâng cao chất lượng bồi dưỡng, giáo dục, tuyên truyền về kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; xây dựng Đề án tổ chức lực lượng tự vệ trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

- Chủ động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh, không để xảy ra đột biến bất ngờ, gây rối, bạo loạn và hình thành, hoạt động của các tổ chức đối lập; bảo vệ bí mật nhà nước; thực hiện phòng, chống khủng bố; tập trung bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, kinh tế, văn hóa - tư tưởng, thông tin - truyền thông, an ninh mạng; nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

- Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật, xây dựng lực lượng quân sự, công an, biên phòng, cảnh sát phòng cháy chữa cháy vững mạnh, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến để người dân hiểu rõ, nắm vững các quy định của pháp luật; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, của từng cấp chính quyền, sở, ban, ngành và xây dựng hệ thống quản lý thông tin thống nhất trong giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nghiêm túc việc tiếp, đối thoại với công dân, đẩy nhanh tiến độ giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục về phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia thực hiện có hiệu quả chương trình 4 giảm; tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để kiềm chế, kéo giảm các vụ vi phạm pháp luật về ma túy, giao thông, số vụ và số người chết vì tai nạn giao thông.

- Nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử; tránh các trường hợp oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm; đẩy nhanh công tác xét xử, giải quyết các vụ án, hạn chế đến mức thấp nhất và tiến tới không còn án quá hạn theo luật định; bảo đảm các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật đều được đưa ra thi hành.

5.5. Tích cực, chủ động, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại

- Xây dựng chương trình, kế hoạch tổng thể về hoạt động đối ngoại dài hạn của tỉnh; trên cơ sở đó rà soát, đánh giá tất cả các thỏa thuận hợp tác đã ký kết với các đối tác để tiếp xúc, đàm phán, ký kết với các đối tác mới có năng lực, thúc đẩy được sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

- Tăng cường chỉ đạo công tác đối ngoại nhân dân, vận động viện trợ và tiếp nhận các dự án tài trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, bảo đảm chặt chẽ, thống nhất một đầu mối.

5.6. Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân; phát huy quyền làm chủ của nhân dân

a) Về xây dựng chính quyền

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, hiệu quả các kỳ họp, công tác thẩm tra và ban hành nghị quyết của HĐND các cấp; tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND tỉnh đã ban hành, giám sát việc thực hiện các chủ trương liên quan đến chế độ, chính sách cho nhân dân; việc thực hiện các kết luận sau giám sát; đổi mới công tác tiếp xúc cử tri và giải quyết có hiệu quả các vấn đề cử tri quan tâm.

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương; đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi để người dân, tổ chức, doanh nghiệp tiếp cận và sử dụng có hiệu quả đối với các dịch vụ công trực tuyến; nâng cao mức độ tín nhiệm và sự hài lòng của người dân trong việc giải quyết các thủ tục hành chính; giữ vững kỷ luật, kỷ cương hành chính trong việc thực hiện chỉ đạo của cấp trên; thực hiện nghiêm túc, quyết liệt Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2016- 2020, trọng tâm là nâng cao trách nhiệm và đạo đức công vụ của công chức; mở rộng các kênh thông tin đối thoại, tiếp thu ý kiến người dân, doanh nghiệp; hoàn thành mô hình một cửa tập trung cấp tỉnh; nâng cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong chỉ đạo, triển khai, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính tại cơ quan, đơn vị, xử lý nghiêm những cán bộ, công chức vi phạm trong thi hành công vụ.

b) Về xây dựng Mặt trận, các đoàn thể nhân dân

- Tiếp tc đi mi ni dung, phương thc hoạt đng theo hưng ngày càng cụ th, thiết thc, hiu qu, hưng về cơ s, đa dng hoá các hình thc tuyên truyn, vn đng, tp hp rng rãi các tng lp nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động; phát huy vai trò cá nhân tiêu biu, lực lượng cốt cán, nhng ngưi có uy tín trong cng đng, nhân sỹ trí thức, chức sắc tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số; xây dựng, củng cố, kiện toàn tổ chức, phát trin đoàn viên, hi viên, góp phần tăng cưng, mở rng khi đi đoàn kết toàn dân tc.

- Nắm chắc tình hình, kịp thời tuyên truyền, vận động và đề xut gii pháp gii quyết những vn đề bc xúc trong nhân dân; thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội và chủ động đề xuất, tham gia góp ý xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.

5.7. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ

- Đổi mới phương thức, nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng theo hướng sâu sát thực tiễn, năng động, sáng tạo, thiết thực, cụ thể; các nghị quyết, chương trình, kế hoạch của cấp ủy phải đưa ra mục tiêu rõ ràng, giải pháp khả thi, đồng bộ và bố trí nguồn lực, các điều kiện để tổ chức thực hiện; triển khai cải cách hành chính trong Đảng; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình trong sinh hoạt Đảng và chế độ báo cáo, trao đổi nhằm đưa ra quyết định, chỉ đạo kịp thời.

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp thực hiện công tác tư tưởng, tăng cường khả năng nắm bắt và xử lý hiệu quả các diễn biến mới về chính trị tư tưởng trong Đảng, trong nhân dân, kịp thời phản bác những thông tin xấu, sai sự thật; nâng cao chất lượng Báo Bà Rịa - Vũng Tàu, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh và chất lượng, hiệu quả việc học tập, quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, qua đó tích cực đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, văn hóa cho thế hệ trẻ.

- Thường xuyên rà soát, bổ sung, triển khai thực hiện quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015- 2020 bảo đảm dân chủ, khách quan, trung thực, chất lượng; tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện tốt việc luân chuyển, bố trí, đề bạt cán bộ bảo đảm đúng tiêu chuẩn, năng lực, sở trường, lấy công việc làm trọng tâm; coi trọng và quan tâm sử dụng người tài, có phẩm chất tốt; kịp thời xử lý, chuyển đổi vị trí công tác đối với những cán bộ, công chức, viên chức ở các khâu, lĩnh vực trì trệ, yếu kém, có nhiều dư luận xấu; tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án phát triển nguồn cán bộ trẻ, cán bộ nữ, Đề án kết nạp đảng viên và phát triển tổ chức đảng trong doanh nghiệp ngoài nhà nước, kế hoạch luân chuyển cán bộ theo quy hoạch; hoàn chỉnh Bộ Tiêu chí đánh giá cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý; xây dựng Đề án thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo cấp trưởng, cấp phó các sở, ban, ngành và trưởng, phó phòng cấp tỉnh, Đề án tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy để tạo nguồn cán bộ phục vụ cho hệ thống chính trị của tỉnh; nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ theo Chỉ thị 10-CT/TW của Ban Bí thư và công tác đánh giá cán bộ, phân loại tổ chức đảng, đảng viên hàng năm bảo đảm thực chất gắn với việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình; tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, nhất là vấn đề chính trị hiện nay.

- Lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng giám sát việc thực hiện các kết luận sau kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp triển khai toàn diện các nhiệm vụ, tập trung kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm; tăng cường công tác giám sát trên tất cả các lĩnh vực, chú trọng những vấn đề bức xúc, nổi cộm của địa phương, đơn vị để chủ động, phát hiện vi phạm và ngăn chặn, xử lý kịp thời.

- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động và đổi mới nội dung, phương thức công tác dân vận; triển khai tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị; tăng cường công tác dân vận của chính quyền, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở và việc đối thoại, tiếp công dân, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; phát động mạnh mẽ phong trào thi đua “Dân vận khéo”, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

- Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt các nhóm giải pháp, lộ trình để khắc phục, sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra sau điểm kiểm và những việc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4; triển khai nghiêm túc, có hiệu quả Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp các chương trình, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý, kịp thời thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình trực tiếp quản lý và các cán bộ, đảng viên, công chức vi phạm.

- Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trở thành nhiệm vụ chính trị thường xuyên của mỗi tổ chức, cá nhân; cụ thể hóa thành mục tiêu phấn đấu, giải pháp thực hiện; tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiêu biểu, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong Đảng và trong xã hội; tăng cường giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là người đứng đầu.

***

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI khẳng định quyết tâm của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát huy hơn nữa truyền thống cách mạng, truyền thống đoàn kết, tận dụng tốt thời cơ, vượt qua thách thức, xây dựng Đảng bộ và cả hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, phát triển Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch, ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng./.

 

Nơi nhận:                                                                                   T/M TỈNH ỦY

- Các đồng chí Thường trực Tỉnh ủy;                                            BÍ THƯ

- Các đại biểu dự Đại hội đại biểu

  Đảng bộ tỉnh lần thứ VI;                                                               

- Lưu Văn phòng Tỉnh uỷ.                                                    

                                                                                              Nguyễn Tuấn Minh



[1] Kinh tế: 5, môi trường: 5, văn hóa - xã hội: 10, QPAN: 7, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận đoàn thể: 29.

[2] Kinh tế: 5; môi trường: 2; văn hóa - xã hội: 3; xây dựng Đảng: 2; Mặt trận, đoàn thể: 3.

Các tin khác
  • Khai mạc trọng thể Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh BR-VT khóa VI, nhiệm kỳ 2015 – 2020(22/10/2015 12:39)
  • Phát biểu của Chủ nhiệm UB Kiểm tra Trung ương Ngô Văn Dụ tại Đại hội Đảng bộ tỉnh BR-VT khóa VI(22/10/2015 12:36)
  • Phát biểu khai mạc Đại hội Đảng bộ tỉnh BR-VT khóa VI của đồng chí Nguyễn Tuấn Minh, Bí thư Tỉnh ủy BR-VT(22/10/2015 12:25)
  • Bà Rịa – Vũng Tàu phát huy thế mạnh trong phát triển kinh tế(21/10/2015 14:42)
  • Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh BRVT lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015-2020 tiến hành phiên trù bị(21/10/2015 12:23)
  • Đoàn đại biểu tham dự đại hội đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lần thứ VI, nhiệm kỳ 2015-2020 viếng nghĩa trang liệt sĩ(21/10/2015 10:31)
  • Họp báo thông tin về Đại hội Đảng bộ tỉnh BR-VT lần thứ VI (nhiệm kỳ 2015 - 2020)(19/10/2015 18:42)
  • ĐƯỜNG DÂY NÓNG
    Nhận xét về website mới của Đài PT-TH tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Rất đẹp
    Đẹp
    Bình thường
    Lượt truy cập: 89570947
    Đang Online: 79
    Thời sự Truyền hình Phát thanhGiới thiệu BRTBRT.newsLịch phát sóng
    © Bản quyền Đài Phát Thanh - Truyền Hình Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
    Giấy phép số:32/GP-TTĐT, cấp ngày 25/2/2011
    Giám đốc, Tổng biên tập: Trần Ngọc Thân